Thursday, January 26, 2012

Abhidhamma and vipassana

Venerable Sitagu Sayadaw U Nyanissara
'Abbhidhamma' means dhamma which is exceedingly subtle, deep, difficult to comprehend, and vast in scope. 'Dhamma' means reality and truth. It means the law of cause and effect, the essence of things and the way things are by nature. It means knowable reality; a reality in which there are no beings, and which is fixed in the order of its manifestations. In short, 'Dhamma' means Reality and Truth in the absolute sense.

Thursday, January 19, 2012

Different aspects of ciita

Nina Van Gorkom
The Buddha spoke about everything which is real. What he taught can be proved by our own experience. However, we do not really know the most common realities of daily life: the mental phenomena and physical phenomena which appear through eyes, ears, nose, tongue, bodysense and mind. It seems that we are mostly interested in the past or the future. However, we will find out what life really is if we know more about the realities of the present moment, and if we are aware of them when they appear.

Monday, January 9, 2012

TÂM LỘ (Cittavīthi)

Tỳ kheo Chánh Minh
I. DẪN NHẬP.
Đức Phật thành lập khung trời Phật đạo bằng ba mảnh lưới Giới - Định -Tụê, các Giáo Thọ sư tiền bối dạy rằng: "Toàn bộ giáo pháp của Đức Thế Tôn có tám muôn bốn ngàn pháp uẩn (dhammakkhandha), ví như tám muôn bốn ngàn mắc lưới trong pháp võng ấy, nhưng không có mắt lưới nào giống mắc lưới nào trọn vẹn".
Nghĩa là mỗi pháp uẩn có điểm tương đồng, đồng thời có điểm dị biệt và toàn bộ những mắc lưới ấy liên kết vào nhau chặt chẽ mật thiết.
Đây là điểm đặc thù trong Giáo pháp của Đấng Như Lai.
Tạng Luật nêu rõ về Giới, Tạng Kinh phần lớn trình bày về Định và Tạng Luận làm hiển lộ phần Tuệ.
Luận A Tỳ Đàm (Abhidhamma) phần lớn trình bày về chơn pháp (paramatthadhamma), còn gọi là Siêu Lý pháp.

Saturday, January 7, 2012

Duy thức trong Thắng Pháp Tạng

Bình Anson
Tháng 01, 1999
Perth, Western Australia

Về Thắng Pháp (Abhidhamma)


Tạng thứ ba của Tam Tạng Kinh Ðiển (Tipitaka) là Abhidhamma Pitaka. Tạng nầy thường được gọi là Luận Tạng vì theo hệ thống kinh điển Ðại thừa, đây là tập hợp các bộ luận giải của các vị cao tăng Ðại thừa. Tuy nhiên, trong hệ Nguyên thủy và để sát nghĩa, Abhidhamma là tập hợp các bài giảng sâu xa của Ðức Phật về thể tính của vạn pháp, và thường được sách Tàu phiên âm là A-tỳ-đàm. Dịch đúng nghĩa là Vi Diệu Pháp hay Thắng Pháp. Cũng có người dịch là Ðối Pháp hay Ðại Pháp, nhưng kém phổ quát hơn.

Theo truyền thống, Thắng Pháp được nhiều Phật tử Nam tông kính mộ và tin tưởng rằng đó là các bài giảng mỗi đêm của Ðức Phật cho chư thiên và hoàng hậu Ma-Da trong ba tháng của mùa hạ thứ bảy tại cung trời Ðao Lợi. Vào ban ngày, Ngài tóm tắt lại cho Ðại đức Xá-lợi-phất, và sau đó ngài Xá-lợi-phất khai triển rộng ra thành bộ Thắng Pháp.



Monday, January 2, 2012

Vi Diệu Pháp Nhập Môn

Tỳ kheo Giác Chánh
NXB Sālā, Sài Gòn, 1974
Lời Nói Ðầu

Quyển "Vi Diệu Pháp Nhập Môn" ra đòi nhằm vào việc phục vụ cho Tăng Sinh Học Viên mối bước vào ngưỡng cửa Abhidhamma là một môn học đối với người Phật tử sơ cơ phải bóp trán, nặn óc suy tư, vì gặp phải một rừng từ ngữ tân kỳ; tư tưởng mới lạ, nhứt là danh từ Pāli.

Quyển "Vi Diệu Pháp Nhập Môn" được xem như tái bản kỳ III, lần đầu chúng tôi cho in từng tập như "Vi Diệu Pháp tập I, II" v.v... Kỳ thứ nhì, chúng tôi cho in lại dưới hình thức vấn đáp, tức là quyển tập "Vi Diệu Pháp vấn đáp".

Quyển "Vi Diệu Pháp Nhập Môn" ngoài tác dụng của bộ sách giáo Khoa Phật Học; còn là cuốn sách đầu giường của học giả nghiên cứu về Triết lý Ấn độ, cũng như Văn Học A Tỳ Ðàm; và cũng có thể được xem như món Gia Bảo của Thiền Tông.


Wednesday, December 21, 2011

Thiền và cảm xúc


Bài pháp của Godwin Samararatne
Hồng kông, 1997
Nguyên Mỹ dịch.

Giới thiệu.
Godwin Samararatne là một cư sĩ người Tích Lan, và là đệ tử của Hòa thượng Nyanaponika. Ông thành lập và điều hành trường thiền Nilamba, ngoại ô thành phố Kandy, Tích Lan, trong hơn 20 năm. Ông cũng dạy hành thiền tại nhiều trường thiền khác trong nước Tích Lan. Ngoài ra, mỗi năm, ông được mời giảng pháp và hướng dẫn các khóa thiền ở Âu Châu, Nam Phi, Ấn Độ, Đài Loan và Hồng Kông. Ông qua đời vào tháng 3, năm 2000.


Sunday, December 18, 2011

Các đặc tính của tâm.

Mỗi tâm thực hiện chức năng riêng của nó; không có tâm nào phát sanh mà không có thực hiện một chức năng. Ví dụ, thấy và nghe là những chức năng do tâm thực hiện. Chúng ta không quen quan tâm đến sự thấy và sự nghe giống như những nhiệm vụ, bởi vì chúng ta hay cố chấp bản ngã. Nếu chúng muốn biết nhiều về những thứ tâm, chúng ta nên học các nhiệm vụ khác nhau của chúng.

Chức năng tâm đầu tiên trong kiếp sống thực hiện là chức năng tâm tái tục. Tâm tái tục được tiếp nối bởi tâm hộ kiếp. Chức năng tâm hộ kiếp là chức năng thứ hai của tâm. Tâm hộ kiếp duy trì sự liên tục trong kiếp sống. Chừng nào con người vẫn còn sống thì tâm hộ kiếp sinh và diệt trong thời gian không có tiến trình tâm tâm ngũ căn hoặc ý môn. Tâm hộ kiếp phát sanh giữa các tiến trình tâm khác nhau mà nó biết cảnh xuyên qua một trong sáu môn. Ví dụ thấy và suy nghĩ về điều mình làm phát sanh trong giữa những tiến trình tâm khác nhau và phải có những tâm hộ kiếp ở giữa những tiến trình khác nhau này.


Monday, October 31, 2011

Con đường giác ngộ theo kinh điển Nikaya

Ðạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ, là thuyền bát nhã cứu vớt tất cả những sanh linh đang đắm chìm trong sông mê bể khổ, đang trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Ðạo Phật cũng là đạo bình đẳng và tự giác cho tất cả những ai muốn tìm đến con đường hướng thượng của sự giải thoát và giác ngộ. Kinh Pháp Cú có câu: "Người thấm nhuần giáo pháp sống hạnh phúc với tâm an lạc. Hàng trí tuệ luôn luôn hoan hỷ trong giáo pháp mà các bậc thánh nhơn đã tìm ra".

Saturday, September 4, 2010

Chẳng Có Ai Cả

Lời Giới Thiệu

Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia sa di từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm hai mươi tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm; hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp.

Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng trong đó có ngài Ajahn Mun, một vị thiền sư nổi danh và được kính trọng vào thời bấy giờ. Ajahn Chah đã chịu nhiều ảnh hưởng của ngài Ajahn Mun. Ajahn Chah là một thiền sư tuyệt diệu, Ngài đã dạy đạo một cách trực tiếp, rõ ràng, và tận tụy chia xẻ sự chứng nghiệm giáo pháp của mình cho những người đến sau. Lời dạy của Ngài thật đơn giản: "Hãy để sự vật tự nhiên, đừng dính mắc. Hãy xã bỏ tất cả. Sự vật thế nào hãy để y như vậy". Ngài Ajahn Chah viên tịch vào ngày 16 tháng Giêng, 1992 ở Wat Ba Pong, tỉnh Ubon Ratachani, Thái Lan.

Friday, April 23, 2010

Chánh niệm tỉnh giác

Trong kinh Sa Môn Quả, Đức Phật còn phải giảng giải cho Potthapàda nhiều điều để tu tập, trước khi chỉ dạy cho ông về phương pháp hành thiền cũng như sự đoạn diệt tăng thượng tưởng. Giờ Đức Phật thuyết về chủ đề chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng (tỉnh giác). Đây là phương cách mà Ngài đã khai triển trong rất nhiều bản kinh: đầu tiên là gìn giữ giới luật, kế đến là kiềm chế các căn, rồi đến chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng (tỉnh giác). Hai điểm sau cùng đi đôi với nhau, thường được nhắc đến cùng lúc. Sati là chánh niệm và Sampajanna là sự hiểu biết rõ ràng.

Điều phục các căn

Để hoàn thiện bất cứ điều gì cũng đòi hỏi sự khổ luyện. Tuy nhiên, không nên nghĩ đến việc rèn luyện như là một điều gì áp đặt cho chúng ta từ bên ngoài. Đúng hơn, đó là những gì chúng ta tự đặt ra cho bản thân vì ta nhận thức rằng khi đã chiến thắng những bản năng và các bốc đồng tiêu cực, dần dần ta sẽ chiến thắng được mọi ảo tưởng tạo nên khổ đau cho chúng ta. Mỗi bước trong giáo lý của Đức Phật đều được tạo dựng để giúp ta tiến gần hơn đến với mục đích. Biết rằng bản thân không làm điều gì sai trái, chúng ta không mặc cảm tội lỗi, không có cảm giác thiếu sót hay sa đà, do đó tâm ta cảm thấy rất thoải mái, tự tại.

Friday, April 9, 2010

Tinh thần phá chấp

Những nỗi nghiệt ngã của cuộc đời đều do chấp thủ cực đoan mà ra. Thủ chấp là mặt trái của sự khổ đau. Nó được hình thành từ sự cố chấp, thành kiến sâu nặng nơi tham ái, sân hận, si mê ở mặt cạn cợt thô thiển và ngay cả sự cố chấp vào những lý tưởng tôn thờ như sắc tộc, tôn giáo và chủ nghĩa cực đoan ở mặt tế nhị sâu xa.
Chấp thủ, con đường đi đến khổ đau
Thủ chấp vào những luận thuyết, những ý thức hệ cực đoan, được hình thành trên tư duy Hữu ngã, là động cơ dẫn đến tham ái (tanhà), hận thù (dosa) và tà kiến (micchaditthi); nguyên nhân chính dẫn đến các thành kiến, xung đột, chiến tranh, bạo lực, khủng bố,… giữa các chủ nghĩa, tôn giáo, quốc gia,… gây ra bao sự bất hạnh, sợ hãi, xao xuyến cho nhân loại trên thế giới xưa nay.


Wednesday, March 24, 2010

Thuyết tương đối cho mọi người

Không mấy ai không biết đến tên tuổi của Albert Einstein, nhưng cũng không mấy ai hiểu được tư duy đầy sáng tạo của ông. Có lẽ cái độc đáo có một không hai của ông cũng còn là ở chỗ đó chăng?

Nhân loại chúng ta đã bước qua năm 2001, năm mở đầu của thế kỷ 21, năm đầu tiên của thiên niên kỷ thứ 3. Vào dịp chuyển giao trọng đại giữa hai thiên niên kỷ. Tạp chí Mỹ Time Magazine đã bầu chọn một tên tuổi sáng chói - Albert Einstein - nhà vật lý học lừng danh thế giới, người có cống hiến vĩ đại đối với loài người - làm danh nhân tiêu biểu số 1 của loài người trong vòng một trăm năm của thế kỷ 20. Chắc hẳn chúng ta đều chia sẻ hoan hỉ đối với sự bầu chọn đầy tính thuyết phục ấy.
Nhưng cũng đáng suy nghĩ biết bao khi một thiên tài kỳ vĩ như vậy của nhân loại dường như vẫn còn như xa lạ với chúng ta, vì ông ít được giới thiệu với đông đảo công chúng nước ta.

Thursday, October 8, 2009

Vài nét về Thiền Vipassana tại Việt Nam hiện nay

LTS: Thiền Vipassana (Thiền Tứ niệm xứ hay Nội quán, Minh sát tuệ) là dòng thiền cổ xưa nhất của Phật giáo. Pháp hành này lấy thân, thọ, tâm, pháp làm đối tượng quán chiếu. Hành giả nhận ra tất cả những cảm thọ và chuyển động trên thân cũng như tâm, giữ tâm quân bình và tỉnh thức để đoạn trừ tham, sân, si, đạt đến giải thoát. Từ những thăng trầm của Phật giáo tại đất Ấn, dòng thiền này đã được truyền bá sang nhiều quốc gia lân cận, trong đó Myanmar được xem là nơi gìn giữ pháp tu này một cách cẩn mật nhất với những vị thiền sư nhiều đời tiếp nối. Trong bối cảnh Phật giáo Việt Nam đang khởi phát nhiều pháp thiền, trong đó có Vipassana, nguyệt san Giác Ngộ đã có cuộc trao đổi với TT.Thích Bửu Chánh - Viện chủ Trung tâm thiền Minh sát Phước Sơn, Đồng Nai - về những vấn đề xung quanh dòng thiền này, xin giới thiệu đến quý vị độc giả. NSGN

Sunday, September 27, 2009

Thiền chữa trị thân tâm

Bất cứ dược phẩm nào được tìm ra trong thế giới, dù nhiều và đa dạng, không có thứ nào bằng Pháp (trích từ Milindapanha). Ngày nay, những nguyên tắc và những thực hành Chánh niệm (sati) và Thiền quán Minh sát (vipassanà) của Phật giáo đã được áp dụng cho nhiều mặt phức hợp của đời sống hiện đại. Ở nhiều quốc gia, ngành y đang phối hợp những thực hành thiền Phật giáo vào nhiều mặt chữa trị.

Sunday, September 20, 2009

Tư tưởng thiền học trong kinh Kim Cang

Có nhiều cách thức để chúng ta tiếp cận với kinh điển. Chúng ta đọc kinh như một tác phẩm văn học để tìm ra những biểu hiện thẩm mỹ của nội dung tư tưởng, hay đọc kinh để hiểu những phạm trù triết học, những tư tưởng ẩn áo mà kinh hàm chứa, v.v…



Cách thức nào không quan trọng. Song, một điều mà người học Phật cần phải lưu ý là cái chân lý thường nghiệm thì phi ngôn thuyết; nó có được do sự kinh nghiệm của mỗi người, như uống nước nóng lạnh tự biết; tự mình phải thâm chứng lấy những gì hàm dưỡng trong giáo lý, không phải chỉ để hiểu mà còn hành nữa. Nên con đường giải thoát của Phật giáo cốt ở ba kỷ luật: Giới, Định Tuệ. Giới nhằm điều chế phong thái bên ngoài, Định nhằm điều chế tâm tư, còn Tuệ nhằm hiểu biết chân xác. Sự hệ trọng của thiền định trong Phật giáo là vậy.

Friday, September 18, 2009

Thiền một nét đẹp văn hóa học đường

Thiền, một khái niệm có thể quen hoặc chưa quen đối với nhiều người nhưng nó có một giá trị lý luận và thực tiễn rất cao, và lại càng có ý nghĩa hơn một khi được ứng dụng cho các trường học của nước ta hiện nay.



Thiền, có xuất xứ từ Ấn Độ cổ đại, được xem là một phương pháp giáo dục con người một cách toàn diện, hướng con người đến Chân - Thiện -Mỹ, rèn luyện con người phát triển thể lực và trí lực một cách hài hòa và tốt đẹp. Giá trị lý luận và thực tiễn của Thiền càng được khẳng định khi hiện nay trên toàn thế giới, nhất là các nước phương Tây đang quan tâm và hướng về nó một cách tích cực.

Tuesday, September 15, 2009

Thiền tập cho người bận rộn

Thức dậy vào mỗi buổi sáng

Ngay khi mới thức dậy, bạn có thể mỉm cười liền lập tức, nụ cười này mang tính giác ngộ: bạn ý thức là một ngày mới được bắt đầu và hăm bốn giờ tinh khôi là món quà mà sự sống đang hiến tặng cho bạn. Đó là tặng phẩm quý giá nhất. Bạn có thể đọc thầm hoặc đọc lớn tiếng bài thơ này:

Thức dậy miệng mỉm cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời.

Sunday, September 13, 2009

Ignorance

Avijja, the Pali word for ignorance, is the opposite of vijja, which means not only "knowledge" but also "skill" — as in the skills of a doctor or animal-trainer. So when the Buddha focuses on the ignorance that causes stress and suffering, saying that people suffer from not knowing the four noble truths, he's not simply saying that they lack information or direct knowledge of those truths. He's also saying that they lack skill in handling them. They suffer because they don't know what they're doing.


The four truths are (1) stress — which covers everything from the slightest tension to out-and-out agony; (2) the cause of stress; (3) the cessation of stress; and (4) the path of practice leading to the cessation of stress. When the Buddha first taught these truths, he also taught that his full Awakening came from knowing them on three levels: identifying them, knowing the skill appropriate to each, and knowing finally that he had fully mastered the skills.

Sunday, September 6, 2009

The Science of Meditation

In the highlands of the Qinghai-Tibet Plateau, people look at life differently. Upon entering the local Buddhist monastery, there is a spectacular sculpture the size of a large oak. The intricate carving of clouds and patterns are painted in powerful colors. But as soon as winter gives way, this magnificent work will melt to nothing. The sculpture, in fact, is made of butter, and it is one of the highland people's symbols of the transient nature of life.


And life here is not easy. Villagers bicycle to work before dawn and return home long after sunset. Many live with nothing more than dirt floors and rickety outhouses. Upon entering these modest mud-brick homes, you'll find no tables or chairs—just a long platform bed, which sleeps a family of eight. However, when the people invite you in for tea, their smiles are wide and welcoming. How do they possess such inner calm in conditions we would call less than ideal?